Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015

Chữa bệnh huyết áp cao cực kỳ hiệu quả vởi củ tỏi

Tăng huyết áp có thể là nguyên phát hay thứ phát. Tăng huyết áp nguyên phát tức là tăng huyết áp mà không tìm ra được nguyên nhân, chiếm tới 95% trường hợp người lớn bị tăng huyết áp.

Bệnh cao áp huyết (hypertension,high blood pressure) nguy hiểm,đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke),chết cơ tim cấp tính (heart attack),suy tim,suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ.Khổ cái,trong đa số các trường hợp,cao áp huyết không gây triệu chứng.Nhiều vị không biết mình mang bệnh,tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác,được bác sĩ cho biết có cao áp huyết.Cho nên,cao áp huyết nổi danh là một ‘’căn bệnh thầm lặng’’.

Chữa bệnh huyết áp cao cực kỳ hiệu quả vởi củ tỏi

Theo GS Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, ở nước ta, người có độ tuổi từ 25 trở lên mắc bệnh tăng huyết áp chiếm tỉ lệ khá cao và có xu hướng gia tăng. Chẳng hạn, năm 1960 chỉ có 1%; năm 2002 đã tăng lên 11,5%; năm 2008 vọt lên 25,1%…

Để điều trị bệnh cao huyết áp, cần tuân thủ chặt chẽ những chỉ dẫn của bác sĩ. Có thể dùng các biện pháp Đông y hỗ trợ điều trị nhưng phải có sự thăm khám thường xuyên để bác sĩ nắm được những chuyển biến của bệnh.

Theo đó, bạn có thể ăn uống các thực phẩm tốt cho sự ổn định huyết áp hoặc sử dụng một số bài thuốc từ thảo dược. Một trong những thực phẩm – thảo dược rất tốt cho bệnh cao huyết áp chính là tỏi.

Tỏi có vị cay, tính ôn, vào hai kinh can và vị, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát độc, sát trùng, trừ phong, tiêu nhọt, tiêu đờm…

Dược tính khoa học của tỏi

Tỏi thường có các hợp như là allicin, liallyl sulfide, ajoene, acid amin tự nhiên, khoáng chất selenium, S-allyl cysteine, diallyl disulfide và diallyl trisulfide …tuy nhiên allicin, liallyl sulfide, ajoene là ba hợp chất chính.
Allicin: allicin là hoạt chất mạnh nhất. Trong tỏi không có allicin ngay mà có chất alliine (một acidamin), chất alliine chịu tác dụng của men alinazane trong tỏi khi bị ôxy hóa chuyển hóa thành allicin. Chính vì vậy khi dùng tỏi thường, càng cắt nhỏ hoặc đập dập nát thì hoạt tính càng cao. Nhược điểm allicin càng để lâu càng mất bớt hoạt tính, khi đun nấu càng đẩy nhanh quá trình mất allicin, đặc biệt đun trong lò vi sóng allicin sẽ bị phá hủy hoàn toàn.
Allicin là một chất kháng sinh tự nhiên rất mạnh, mạnh hơn cả penicillin. Allicin có tác dụng ức chế rất nhiều loại vi khuẩn gram âm và gram dương như saphylococcus, streptococcus, samonella, V.cholerae,B.dysenteriae,mycobacterium tuberculosis. Chính vì vậy tỏi làm ức chế sự phát triển của nhiều loại siêu vi như siêu vi bại liệt, cúm và một số loại nấm gây bệnh ở da hoặc bộ phận sinh dục nữ như candida
Liallyl sulfide: không hư hoại nhanh như allicin và vẫn giữ được dược tính khi đun nấu. Liallyl sulfide có tác dụng kháng sinh nhưng yếu hơn allicin. Giống như allicin càng thái lát hay càng dập nát càng nhiều liallul sulfide.
Ajoene: Có tác dụng làm giảm độ dính của máu.
Selenium: Tỏi có hàm lượng khoáng chất selenium đáng kể, selenium là một chất chống ôxy hóa mạnh làm tăng bảo vệ màng tế bào, phóng chống ung thư và bệnh tim mạch.

Chữa bệnh huyết áp cao cực kỳ hiệu quả vởi củ tỏi

Tại Italia, các công trình nghiên cứu được phổ biến trên tạp chí British journal of Cancer (năm 1993) của các nhà khoa học thuộc trường đại học Pensylvania chỉ ra rằng: tỏi có khả năng ngăn chặn khối ung thư do một số hợp chất có trong tỏi như S-allyl cysteine, diallyl disulfide và diallyl trisulfide. Công trình nghiên cứu của đại học Geniva, của tiến sĩ R.C.Jain trường đại học Benghzi, của đại học Newyork, các nhà khoa học Ân Độ… thì cho biết thêm tỏi còn có tác dụng hạ huyết áp, hạ cholesterol…

Cơ chế tác dụng của tỏi lên hệ tim mạch: Tỏi làm hạ cholesterol bằng cách gia tăng sự đào thải cholesterol và giảm hấp thu cholesterol xấu qua màng ruột, qua đó làm giảm độ lipid trong máu. Hoạt chất của tỏi có tính chất gần giống như nội tiết tố prostaglandin PGI2 vừa nở mạch vừa ngăn chặn quá trình kết tập tiểu cầu nên có tác dụng hạ huyết áp. Chất ajoene trong tỏi cũng làm giảm nồng độ fibrinogen trong máu giúp giảm nguy cơ nghẽn mạch. Trong các bệnh xơ vữa động mạch, các gốc tự do làm gia tăng sự ôxy hóa của tế bào LDL ở thành mạch máu tạo thành mảng bám gây cứng động mạch và làm hẹp lòng mạch. Tỏi là một loại gia vị có những chất chống ôxy hóa mạnh có tác dụng ngăn chặn quá trình này.


Qua nhiều nghiên cứu, người ta thấy tỏi có thể chữa được 4 nhóm bệnh:

Bệnh xương khớp (viêm đau khớp, vôi hóa các khớp, mỏi xương khớp)

– Bệnh hô hấp (viêm họng, viêm phế quản, hen phế quản)

– Bệnh tim mạch (huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ mỡ động mạch)

Bệnh tiêu hóa (ợ chua, khó tiêu, viêm loét dạ dày – tá tràng).

Trong y văn có ghi rằng tỏi được dùng để trị bệnh cao huyết áp ở Trung Hoa từ nhiều thế kỷ trước đây. Giới chức y tế Nhật Bản cũng chính thức thừa nhận tỏi là thuốc trị huyết áp cao.

Năm 1948, bác sĩ F.G. Piotrowski ở Geneve khẳng định công dụng của tỏi để trị cao huyết áp. Theo ông, tỏi làm giãn mở những mạch máu bị nghẹt hay bị co hẹp, nhờ đó máu lưu thông dễ dàng và áp lực giảm.

Chữa bệnh huyết áp cao cực kỳ hiệu quả vởi củ tỏi

Nhà sinh học V. Petkov thực hiện nhiều nghiên cứu ở Bulgarie cho hay tỏi có thể hạ huyết áp tâm thu từ 20-30 độ, huyết áp tâm trương từ 10 tới 20 độ.

Thạc sỹ – lương y đa khoa Vũ Quốc Trung, phòng chẩn trị Y học cổ truyền chùa Cảm Ứng, Hà Nội (Hội Đông y Hà Nội) cho rằng cách đơn giản nhất để sử dụng tỏi để chữa bệnh cao huyết áp là dưới dạng rượu tỏi hoặc giấm tỏi.

Cách làm như sau: Tỏi sống 0,25kg, bóc bỏ vỏ ngoài rồi ngâm với 0,65 lít rượu gạo 40 độ, hoặc giấm 4 – 5 % axit axetic. Ngâm trong 10 ngày là dùng được.

Liều lượng: Ngày dùng 2 lần, sáng trước bữa ăn và tối trước khi đi ngủ, mỗi lần khoảng 3ml.

Sở dĩ sử dụng rượu tỏi hoặc dấm tỏi không những vì 2 cách chế biến này đơn giản, dễ làm, dễ ăn mà còn do tỏi trong môi trường axit (giấm, rượu) sẽ tăng tác dụng lên 4 lần so với tỏi sống.

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Bệnh ưa chảy máu (Bệnh Hemophilia) là gì?


Hemophilia là bệnh rối loạn đông máu di truyền còn goi là bệnh ưa chảy máu.Cơ thể tạo thành các cục máu đông để làm ngừng chảy máu khi bị thương và giúp phục hồi tổn thương. Bình thường cục máu đông được hình thành làm ngừng chảy máu trong cơ hoặc khớp sau những chấn thương nhỏ liên quan đến cuộc sống hàng ngày. 

Đông máu phụ thuộc vào sự tương tác của nhiều thành phần trong máu. Một vài trong số đó được gọi là yếu tố đông máu. Nếu một trong số các yếu tố đông máu này không có hoặc bị thiếu thì chảy máu kéo dài có thể xảy ra. Một bệnh nhân Hemophilia có ít yếu tố đông máu hơn bình thường. Hemophilia A là bệnh hay gặp nhất do giảm yếu tố VIII. Hemophilia B do giảm yếu tố IX. Một người bị Hemophilia không bị chảy máu nhanh hơn mà chảy máu lâu cầm hơn người bình thường
.
  Bệnh ưa chảy máu (Bệnh Hemophilia) là gì?

Tỷ lệ Hemophlia trong cộng đồng là 2/34830 người (tương đương 25 – 60 người 1 triệu dân) trong đó Hemophilia A là chủ yếu, Hemophilia B chỉ chiếm 13,16%, Hemophilia thể nặng chiếm 25 % tổng số. Ước tính toàn quốc có khoản 5.000 bệnh nhân trong đó số được phát hiện và chăm sóc chỉ chiếm khoảng 1/10. 

Hemophilia là một nhóm bệnh rối loạn đông máu di truyền do giảm yếu tố VIII, yếu tố IX hoặc yếu tố XI và được đặt tên là Hemophilia A, Hemophilia B hoặc Hemophilia C.

Dựa vào nồng độ yếu tố đông máu mà Hemophilia được phân thành 3 thể:
- Nhẹ (5 - 30 %)
- Trung bình (1 - 5 %)
- Nặng (< 1 %). 

Nguyên nhân gây bệnh

Có 20 yếu tố tham gia trong quá trình đông máu. Thiếu hụt bất kỳ yếu tố nào trong số này cũng đều dẫn đến bệnh ưa chảy máu. 

Bệnh được phân loại dựa trên yếu tố bị thiếu hụt.

  Bệnh ưa chảy máu (Bệnh Hemophilia) là gì?

- Hemophilia A. Là thể bệnh hay gặp nhất, do thiếu yếu tố VIII.

- Hemophilia B. Là thể bệnh hay gặp thứ hai do thiếu yếu tố IX.

- Hemophilia C. Là thể bệnh do thiếu yếu tố XI, triệu chứng nói chúng thương nhẹ hơn.

Triệu chứng của bệnh ưa chảy máu

Triệu chứng của căn bệnh là hay xuất hiện những vết thâm và khi bị chảy máu thường lâu cầm. Chảy máu này có thể do tự phát (không phải các yếu tố ngoại cảnh gây nên) hoặc do ảnh hưởng của vết thương cũng gây chảy máu. 

  Bệnh ưa chảy máu (Bệnh Hemophilia) là gì?

Cùng mắc căn bệnh này nhưng chảy máu nhiều hay ít còn phụ thuộc và sự thiếu khuyết nhiễm sắc thể của từng người. Việc bị đứt tay nhẹ hay chỉ chày xước da thì không có gì đáng lo, nhưng về bản chất thì nó sẽ đe dọa cuộc sống của bạn. Chảy máu nhiều lần có thể dẫn đến bệnh viêm khớp và tổn thương đến khớp trong một thời gian dài.

Đặc biệt khi chảy máu tự phát là rất nguy hiểm, nhất là khi xuất huyết não thì rất khó kiểm soát và nó đe dọa tính mạng con người.Việc mất máu trong thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến học tập và công việc.



Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo


Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

Mỡ máu: hãy ăn những loại thực phẩm này

Ngoài kiêng rượu bia chất kích thích, luyện tập thể dục thể thao điều độ, chỉ số mỡ trong máu của bạn sẽ giảm đáng kể nếu trong thực đơn dinh dưỡng của bạn có thêm các loại thực phẩm dưới đây.

Rau diếp

Đứng đầu trong danh sách các loại thực phẩm vàng người bệnh mỡ máu nên ăn thường xuyên đó chính là rau diếp. Ngoài hỗ trợ điều trị căn bệnh mỡ máu, những người ăn rau diếp thường xuyên còn phòng được các chứng bệnh nguy hiểm khác như cao huyết áp, u ruột.

Để có được công dụng tuyệt vời này, người ta đã chứng minh được xenlulo có trong rau diếp có hiệu quả tích cực tới hệ tiêu hóa như giảm hấp thu mỡ, “tiêu diệt mỡ”.. điều quan trong là làm cho bạn có cảm giác no bên trong, không còn cảm giác thèm ăn, gián tiếp hạn chế hấp thu các thức ăn chứa nhiều dầu mỡ.
 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này


Rau diếp đứng đầu trong danh sách thực phẩm người mỡ máu nên ăn.

Đậu xanh

Xếp thứ hai trong danh sách là đậu xanh, nhưng hãy lưu ý là đậu xanh nẩy mầm nhé (hay còn gọi là giá đỗ). So với đậu thường, hạt đậu nẩy mầm tăng gấp 67 lần hàm lượng các vitamin nhất là vitamin C.

Chính vitamin C giúp cơ thể tăng cường bài tiết và đào thải cholesterol ra khỏi thành động mạch. Ngoài ra, khi cơ thể được cung cấp giàu lượng vitamin C sẽ giúp bạn xua tan cảm giác mệt mỏi, gián tiếp “đẩy lùi” mỡ máu.

 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này

Đậu xanh mọc mầm có hàm lượng vitamin C cao gấp 67 lần.

Táo

Táo xứng đáng là loại trái cây người mắc bệnh mỡ máu cao nên bổ sung thường xuyên nhất. Công dụng nổi bật của táo trong hỗ trợ điều trị căn bệnh mỡ máu nhờ hàm lượng chất xơ có bên trong loại quả này.

 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này


Chất béo, mỡ thừa sẽ được “đánh tan” nhờ chất xơ, pectin, vitamin C.. chứa bên trong quả táo.

Mộc nhĩ đen

Không chỉ có người mắc bệnh mỡ trong máu mà cả những ai sắp cơ nguy cơ béo phì hãy thường xuyên sử dụng mộc nhĩ đen trong khẩu phần ăn của mình hằng ngày.

Mộc nhĩ đen đi vào trong dạ dày nhanh chóng đẩy nhanh quá trình bài tiết mỡ, chất béo nhờ chất keo thực vật chỉ có trong loại thực phẩm này. Ngoài ra, ngăn ngừa máu hấp thu mỡ vào bên trong nhờ công dụng thúc đẩy sự co bóp của tràng dịch vị.

 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này

Keo thực vật trong mộc nhĩ đen tăng cường sự bài tiết chất béo. 

Lạc

Nếu bạn đang bị căn bệnh mỡ trong máu, hãy thường xuyên bổ sung loại thực phẩm rẻ tiền mà còn dễ tìm thấy ở bất kỳ đâu. Tương tự như quả óc chó, hạnh nhân.. hàm lượng sterol có trong đậu phộng         tương tự như các loại hạt vừa kể trên. Mặc khác, sterol lại là “khắc tinh” của cholesterol. Hạn chế sự hấp thu trong máu..

Ngoài ra, cholesterol trong máu sẽ được bài tiết thành các chất khác theo đường tiểu, phân ra ngoài cơ thể khi ăn lạc thường xuyên. Vì lạc rất giàu choline, lecithin và các axit béo không no có tác động tích cực tới chỉ sốc cholesterol trong máu.

 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này

Đậu phộng làm giảm hấp thu hàm lượng cholesterol trong máu. 

Thịt gia cầm

 Mỡ máu: hãy ăn 6 loại thực phẩm này

Thịt gia cầm cũng góp phần trong danh sách các loại thực phẩm người mỡ máu có thể sử dụng hằng ngày. Bạn hoàn toàn có thể yên tâm sử dụng thịt gà, vịt vì so với các loại thịt màu đỏ khác như bò, heo.. thịt gia cầm chứa nhiều axit béo không bão hòa. Tuy nhiên, hãy nhớ lột bỏ da trước khi chế biến vì phần da chứa rất nhiều mỡ không tốt cho người mắc bệnh mỡ máu. 


Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

SỐT XUẤT HUYẾT



 SỐT XUẤT HUYẾT

Sốt xuất huyếtbệnh nhiễm trùng cấp do siêu vi Dengue, muỗi vằn là vật trung gian truyền bệnh, đây là loại muỗi sống ở những nơi bùn lầy nước đọng chung quanh nhà, hoặc các nơi ẩm thấp tối tăm trong nhà.

Biểu hiện là xuất huyết da, niêm mạc và trụy tim mạch, dễ đưa đến tử vong nếu điều trị không kịp thời và không đúng mức.

 SỐT XUẤT HUYẾT

Nhóm nguy cơ cao

· Bệnh này thường xãy ra ở trẻ em tuổi từ 2-9 tuổi, càng lớn càng ít bị. Ðặc biệt trẻ càng bụ bẩm khi mắc bệnh dễ có khuynh hướng diễn tiến nặng.

· Bệnh thường xảy ra vào đầu mùa mưa, cao điểm vào khoảng tháng 6-10 âm lịch và giảm dần vào các tháng cuối năm.

· Bệnh thường gặp ở những nơi đông dân cư, vệ sinh môi trường kém.

Triệu chứng của bệnh

· Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2-7 ngày.

· Xuất huyết dưới dạng chấm rải rác trên da hoặc bầm chổ chích, chảy máu cam, ói ra máu

· Gan to.

· Sốc với mạch nhanh, nhẹ, huyết áp giảm, kẹp, hoặc không đo được, chi lạnh, bứt rứt ..

· Kèm theo một số triệu chứng không đặc hiệu như : chán ăn, đau cơ, đau khớp, đau bụng.

 SỐT XUẤT HUYẾT

Chuẩn đoán

· Triệu chứng của bệnh.

· Xét nghiệm máu có tình trạng cô đặc máu.


Ðiều trị

· Khi đã nghĩ tới bệnh sốt xuất huyết thì cần phải đưa người bệnh đến bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Hiện tại đa số được khuyên là không nên dùng thuốc hạ nhiệt nhóm Salicylates vì có thể gây xuất huyết và làm toan huyết. Thuốc được sử dụng nhiều nhất là paracétamol, lau mát để hạ sốt.Truyền dịch.

· Dưỡng khí.

· Thuốc an thần.

· Hạn chế một số thủ thuật gây chảy máu, đặc biệt là chọc hút ở các tĩnh mạch lớn.Trong trường hợp có tràn dịch màng phổi, gây khó thở, có thể chọc dò thoát dịch để giải quyết tạm thời tình trạng suy hô hấp.Sự theo dõi được tiến hành liên tục cụ thể là : Mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ mỗi 15 – 30 phút một lần hoặc sát hơn, cho đến khi ổn định, lượng dịch truyền, lượng nước tiểu.

Phòng ngừa bệnh

· Theo dõi tất cả các trường hợp có sốt. Dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm để chẩn đoán sớm, đồng thời có biện pháp điều trị thích hợp.

· Diệt lăng quăng.

· Dọn dẹp các nơi bùn lầy, nước đọng nhất là các vật chứa nước cặn như chén bể, lon bia, vỏ xe, vỏ chai …

· Các biện pháp khác: Hun khói xua muỗi, diệt lăng quăng bằng cách nuôi cá bảy màu, ngủ mùng, dùng hóa chất ngăn cản muỗi đốt.Hiện vẫn chưa có thuốc chủng ngừa bệnh sốt xuất huyết.


 SỐT XUẤT HUYẾT


Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ
Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo
Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

CHOLESTEROL CAO


Cholesterol là loại chất béo sáp cần thiết cho sự phát triển các tế bào khỏe mạnh. Tuy nhiên, quá nhiều cholesterol lại có thể gây xơ vữa động mạch, đau tim...

Mức độ từ 200mg/dL tới 239mg/dL là sát mí (borderline), và người nào có mức độ mỡ trong máu mà trên 240mg/dL thì có rất nhiều nguy cơ bị bệnh về tim mạch.

Hậu quả của cholesterol tăng cao

Cholesterol cần thiết cho sự phát triển cơ thể. Tuy nhiên, quá nhiều cholesterol lại có thể gây ra những vấn đề sức khỏe. Tăng cholesterol có thể do di truyền hoặc do ăn uống không lành mạnh và thiếu tập luyện. Việc dự phòng bao gồm hạn chế những thực phẩm chứa nhiều cholesterol, tập luyện thường xuyên và tư vấn bác sĩ về những thắc mắc và các loại thuốc. Dưới đây là những chứng bệnh gây ra do cholesterol tăng cao:

Xơ vữa động mạch

Cholesterol tăng cao không kiểm soát được có thể gây xơ vữa động mạch, xuất hiện khi các mảng bám tích tụ trong thành động mạch. Mảng bám là chất được tạo thành bởi cholesterol, chất béo và canxi. Mảng bám tích tụ trong thành động mạch sẽ khiến cho động mạch bị cứng và hẹp lại, có thể gây tắc nghẽn làm máu và oxy không thể lưu thông. Kết quả là sẽ gây đột quỵ và đau tim.


Cholesterol tăng cao không kiểm soát được có thể gây xơ vữa động mạch, do các mảng bám tích tụ trong thành động mạch, từ đó dẫn tới nhiều hệ lụy như máu không lưu thông được tới não, tim...

Các dấu hiệu và triệu chứng của xơ vữa động mạch có thể bao gồm đau ngực, khó thở, tê hoặc đau các chi. Tuy nhiên, ở một số người không có bất cứ triệu chứng nào.

Đau tim

Khi cholesterol hình thành trong thành động mạch, cản trở lưu thông oxy và máu, một người sẽ có nguy cơ bị đau tim. Trong khi đau tim, các mảng bám vỡ ra và hình thành cục máu đông, có thể ngăn không cho động mạch nhận máu, oxy và các cơ tim bắt đầu chết. Nếu lưu thông máu được phục hồi đúng lúc, qua hồi sức tim phổi, tim có thể hoạt động trở lại. Các dấu hiệu và triệu chứng của đau tim có thể gồm khó thở, đau ngực, đổ mồ hôi, ngất xỉu, buồn nôn, nôn và đau bắt đầu từ ngực, tỏa đến vai, cánh tay, lưng và thậm chí cả răng, hàm. Những người từng có những dấu hiệu và triệu chứng này nên đi khám bác sĩ ngay lập tức.

Đau thắt ngực

Đau thắt ngực, được đặc trưng bởi sự co thắt ngực và đau, là kết quả của việc hạn chế lưu thông máu các động mạch bị tắc bởi có quá nhiều cholesterol xấu. Các động mạch bị tắc và hẹp lại vì sự lắng đọng các chất béo, gây cản trở lưu thông máu tới tim. Đau thắt ngực có thể dẫn tới bệnh tim mạch.

Đột quỵ

Khi các động mạch tới não bị tắc nghẽn hoặc hẹp do hàm lượng cholesterol cao, máu và oxy không thể tới não. Nếu các tế bào não không nhận đủ oxy và máu, chúng bắt đầu chết và gây đột quỵ. Các dấu hiệu và triệu chứng của đột quỵ gồm nói khó hoặc líu lưỡi, đi lại khó khăn, liệt hoặc tê một bên mặt hoặc cơ thể, nhìn mờ, nhìn đôi hoặc có điểm đen. Một số người bị đau đầu đột ngột và dữ dội có thể gây nôn, chóng mặt hay kém nhận thức. Đột quỵ đòi hỏi phải có can thiệp y tế ngay lập tức.

Bệnh động mạch ngoại biên

Cholesterol cao có thể làm tăng khả năng mắc bệnh động mạch ngoại biên. Bệnh này là do các động mạch ở chân bị tắc nghẽn do tích tụ mảng bám. Kết quả là chân của bạn không nhận đủ oxy hoặc máu và hình thành bệnh động mạch ngoại biên, vốn là bệnh gây đau đớn của các động mạch chân. Bên cạnh những ảnh hưởng tới chân, động mạch ngoại biên có thể đe dọa đau tim và gây ra các vấn đề tim mạch khác.

Huyết áp cao

Trong khi cholesterol tốt không gây tăng huyết áp thì cholesterol xấu lại gây ra tình trạng này. Trên thực tế, cholesterol tốt có thể giúp đạt được huyết áp bình thường. Hàm lượng cao cholesterol xấu có thể dính vào thành động mạch cũng như các mạch máu khác. Nó làm tắc nghẽn lưu thông máu, khiến tim phải làm việc vất vả gấp đôi. Ngoài ra, cũng có một lực máu mạnh hơn trên thành động mạch, dẫn đến tăng huyết áp
Ăn uống thế nào khi "bị" cholesterol cao?

TTCT - Cholesterol cao là mối lo của nhiều người, nhưng không phải loại bỏ những thức ăn khiến làm tăng nguy cơ là an toàn, mà là ăn như thế nào cho đúng.


Hạ thấp đến bao nhiêu là bình thường? Không có mức bình thường tuyệt đối, mức bình thường của người khỏe mạnh dao động tùy theo cách đo đạc mà phòng xét nghiệm sử dụng. Những người có nguy cơ tim mạch cao và rất cao thường phải dùng thuốc statin để kiểm soát LDL cholesterol, sao cho giữ ở mức nhỏ hơn 100 mg/dl.

Tuổi tác không phải là yếu tố cân nhắc khi cho thuốc bởi người già thường có lợi khi hạ thấp LDL cholesterol.

Ăn đúng

Để giảm LDL cholesterol hay triglyceride đòi hỏi phải kết hợp giảm cân, vận động thể lực thường xuyên và chế độ ăn ít chất béo bão hòa và cholesterol. Những thuốc hạ mỡ máu hiện có không thể đủ để hạ cholesterol hay triglyceride như mong muốn, mà chỉ có thể giảm 30-40% trị số ban đầu. Phần còn lại đòi hỏi phải thay đổi lối sống và ăn uống.

Thay đổi lối sống (bao gồm vận động, bỏ thuốc lá) không chỉ làm hạ cholesterol, giảm triglyceride mà còn giảm đột quỵ hay cơn đau tim qua cơ chế khác không liên quan đến cholesterol.

Bên cạnh việc thay đổi lối sống như năng tập luyện cường độ trung bình, giảm cân thừa, giảm rượu, ngưng hút thuốc lá, kiểm soát đường huyết (nếu có), ăn uống đúng cách là bước đầu tiên nhưng rất hiệu quả trong nỗ lực giảm cholesterol và triglyceride lại không lo tác dụng phụ.

Ở đây nhấn mạnh không nên ăn kiêng mà là ăn hợp lý. Ăn kiêng quá mức làm cơ thể thiếu chất, nhất là thiếu vi chất, lâu ngày gây suy dinh dưỡng, giảm khả năng đề kháng với bệnh tật. Để giảm cholesterol, chọn thức ăn không có mỡ bão hòa, không có cholesterol là điều kiện tiên quyết.

Đối với người tăng triglyceride, lưu ý cắt giảm tinh bột đã qua chế biến có trong thức ăn nhanh, bánh mì, bắp rang, thay vào đó là chất bột chưa qua chế biến như bắp trái, khoai, các loại củ...

ĐỂ PHÒNG NGỪA CHOLESTEROL CAO

Hạn chế chất béo, phần năng lượng do dầu mỡ trong khẩu phần ăn hằng ngày chỉ nên dưới 30% tổng năng lượng cần dùng. Ví dụ khoảng 2.200kcal cần cho cơ thể người trưởng thành mỗi ngày thì chất béo chỉ nên cung cấp 600kcal.

- Không ăn thức ăn có cholesterol cao. Nhu cầu hằng ngày là 300mg cholesterol. Vì vậy lòng đỏ trứng, thịt đỏ nên hạn chế vì có nhiều cholesterol và acid béo bão hòa. Ví dụ một trứng mỗi tuần.

- Giảm các chất béo bão hòa (thịt mỡ, bơ, phomát, margarin...), thay thế bằng chất béo chưa bão hòa (dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu vừng...).

- Nên ăn cá nhiều hơn và chọn cá béo vì omega-3 có trong mỡ cá giúp giảm mỡ máu.

- Ăn nhiều rau cải, trái cây.

Nguồn cung cấp cholesterol chính đến từ thịt, gia cầm, cá, phủ tạng động vật, nhất là gan và sản phẩm từ sữa, trong khi rau cải không chứa một lượng nhỏ nào.

Và bạn cũng đừng quá căng thẳng trong chuyện ăn uống khi đã ăn kiêng đến “tận trời đất” và uống thuốc đúng chỉ định mà cholesterol vẫn không giảm. Không phải cứ ăn kiêng là có thể giảm được mỡ máu, bởi chỉ 20% cholesterol trong cơ thể đến từ thức ăn, cơ thể bạn vẫn tự sản xuất cholesterol quá mức do bất thường gen quy định.

ĐIỀU TRỊ CHOLESTEROL CAO

Điều trị bằng thuốc

Thuốc làm hạ cholesterol thường có 4 nhóm chính, nhưng thường dùng nhất là nhóm fibrat và statin.

- Nhóm fibrat: biệt dược thông dụng là lypanthyl (viên 100mg, 300mg), làm giảm loại cholesterol có hại, tăng cholesterol có lợi, lập lại cân bằng bình thường về hai loại này. Nhờ thế làm giảm hẳn lượng cholesterol trong máu (nếu dùng lâu dài) và từ đó làm giảm nguy cơ xơ mỡ động mạch.

Tuy nhiên thuốc loại này thường làm tổn thương cơ (thường xảy ra hơn đối với người bị đau cơ lan tỏa), ảnh hưởng xấu đến thận và gan (làm tăng chỉ số transaminnaza). Vì thế không được dùng cho người suy gan thận, với người bình thường khi dùng cũng phải định kỳ kiểm tra chức năng gan (đo chỉ số transaminaza).

- Nhóm statin: Biệt dược thông dụng là lescol (viên 20mg). So với nhóm trên, thì nhóm này làm giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi với mức mạnh hơn, do đó ngăn ngừa tốt hơn nguy cơ xơ mỡ động mạch và một số bệnh tim khác.

Một ưu điểm khác là thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn (khoảng 98%). Thuốc có những tác dụng độc như nhóm trên nên cũng có khuyến cáo tương tự. Ngoài ra chưa có các thông tin đầy đủ cho trẻ dưới 18 tuổi nên không nên dùng cho đối tượng này.

- Nhóm niacin: biệt dược thông dụng niacin (viên nén 5, 50, 100, 150 và 500mg, ống tiêm 1ml chứa 0,17% niacin). Thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ, mao mạch, giảm cholesterol máu. Thường dùng phối hợp với nhóm statin.

Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú, không dùng cho trẻ em, hết sức thận trọng khi dùng cho người sỏi mật, người có bệnh mạch vành. Theo dõi cẩn thận người bệnh có tiền sử vàng da, có bệnh gan hay loét tiêu hóa nếu phải dùng thuốc. Cấm dùng với người rối loạn chức năng gan, loét tiêu hóa, chảy máu động mạch.

- Nhóm resin: biệt dược thông dụng là cholestyramin hoặc cholestipal. Thuốc làm giảm loại lipoprotein phân tử lượng thấp (tức gián tiếp làm giảm cholesterol có hại) và từ đó làm giảm lượng cholesterol toàn phần xuống 25-30%, làm giảm sự tích tụ lipít ngoài thành mạch.

Tuy nhiên bản chất của thuốc là nhựa trao đổi ion, không bị hấp thu qua đường tiêu hóa, sau 3-6 tuần không dùng thuốc, lượng lipoprotein phân tử lượng thấp và cholesterol toàn phần lại tăng lên. Thuốc có thể gây táo bón và tiêu chảy, nôn, nhưng sẽ tự mất đi khi ngừng dùng.

Hiện nay, người ta còn dùng một loại thuốc mới có tên là lipotropic, thực chất là một hỗn hợp gồm các chất hướng mở, vận chuyển mỡ. Hỗn hợp này làm tăng việc sản xuất ra lecithin do đó giúp hòa tan cholesterol, giảm lượng cholesterol thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ xơ mỡ động mạch...

Những thuốc nói trên thường đắt, khó dùng. Thầy thuốc chỉ cho khi có sự rối loạn mất cân bằng cholesterol thực sự và khi tiền sử người bệnh không có bệnh tim mạch, tiểu đường.

Với những trường hợp khó khăn này, lọc máu lấy bớt LDL cholesterol được các trung tâm chuyên điều trị rối loạn lipid thực hiện.

PHƯƠNG PHÁP HIỆN ĐẠI NHẤT

Đến với Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo để được khám và tư vấn bằng phương pháp Đông Tây Y kết hợp. Với chi phí hợp lý , chữa bệnh tận nhà sẽ làm hài lòng quý khách.

Nắm trong tay phương pháp trị bệnh và phòng bệnh tiên tiến nhất, chúng tôi cam kết hoàn tiền 100% nếu bệnh nhân không hết bệnh và sức khỏe không được hồi phục.


Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam
Điện thoại:0913 254 627 (gặp chị Năng) - Hotline : 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com
http://www.tribenhthongminh.vn

Các loại rau chữa bệnh tiểu đường cho hiệu quả bất ngờ

Bệnh tiểu đường là một căn bệnh mãn tính rất nguy hiểm bởi những hệ lụy đáng tiếc do căn bệnh này gây nên, nếu như người bệnh không tự biết điều chỉnh đường huyết của mình ở mức ổn định cho phép. Bệnh tiểu đường không thể chữa khỏi hoàn toàn, mà chỉ còn cách học sống chung hòa bình với chúng.


Rau xanh là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn gia đình, đặc biệt là cho người bị tiểu đường. Rau xanh nguồn thực phẩm bổ dưỡng và rất có lợi cho sức khỏe, rau không chứa nhiều calo mà lại giàu chất xơ.

Ăn rau nhiều hơn những thực phẩm khác đồng nghĩa với việc giảm được lượng carb (tinh bột và đường, một trong những nguyên nhân làm tăng đường huyết) và giảm được lượng chất béo bão hòa (thủ phạm gây ra tình trạng đề kháng insulin). Rau quả là nguồn cung cấp vitamin và chất xơ.

Các loại rau tốt

Me rừng


Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát có công năng sinh tân, chỉ khát, lợi tiểu, hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hóa đờm…

- Quả thu hái vào mùa thu đông, dùng tươi hay phơi khô để dành sử dụng dần. Lá thu hái vào mùa hè thu; vỏ và rễ thu hoạch quanh năm, có thể sử dụng tươi hay sấy khô để dùng dần.

- Quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát có công năng sinh tân, chỉ khát, lợi tiểu, hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hóa đờm… Ở Ấn Độ cũng sử dụng nó làm thuốc mát, lợi tiểu, nhuận tràng.

- Còn lá me rừng có vị cay, tính bình, tác dụng lợi tiểu. Rễ cây có vị đắng chát, tính bình với tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cây cũng có tác dụng thu liễm. Hoa me rừng công dụng làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng. Ngoài ra người ta sử dụng quả me rừng khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ hoặc phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu.

- Trong đông y cũng được sử dụng đơn độc hay phối hợp như lấy quả me rừng dùng trong trị cảm mạo phát sốt, đau họng, đau răng, chảy máu chân răng, lợi, miệng khô phiền khát, tiểu đường, thiếu vitamine C.

- Dùng rễ cây me rừng làm thuốc trị huyết áp cao, đau thượng vị, viêm ruột, lao hạch và cả bệnh bạch huyết. Còn lá me rừng dùng làm thuốc trị phù thũng, viêm da mẩn ngứa, eczema hay dùng ngoài lấy lá nấu nước tắm rửa phòng trị bệnh ngoài da.

Bông cải xanh: Bông cải xanh là loại rau rất tốt cho sức khỏe người bệnh tiểu đường. Bông cải xanh có nhiều chất xơ và chất chống oxy hoá. Nó cũng giàu crôm, có vai trò quan trọng trong kiểm soát đường huyết. Sử dụng thực phẩm này cho bệnh nhân tiểu đường trong súp, món ăn mì ống và thịt hầm, hoặc xào với tỏi.


Bí ngô
Theo những kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng, bí ngô không chỉ là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao mà còn là một bài thuốc tốt cho bệnh tiểu đường. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, bí ngô có tác dụng phục hồi các tế bào trong tuyến tụy, và hoàn toàn có khả năng ngăn ngừa và chữa trị được bệnh tiểu đường.


Rau dền
Rau dền rất thích hợp với người tiểu đường, kèm theo táo bón vì rau dền giàu Magiê - là chất có vai trò chữa trị tiểu đường, cao huyết áp, táo bón.


Dưa chuột
Nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, nước ép dưa chuột chứa loại hormone cần thiết tốt cho việc sản xuất insulin của tuyến tụy, có lợi cho bệnh nhân tiểu đường.


Đậu
Chế độ ăn gồm nhiều loại đậu, đỗ có thể giúp kiểm soát chỉ số đường huyết cũng như giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và đột quỵ ở những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2. Đậu là nguồn chất xơ tốt nhất trong chế độ ăn kiêng, nó không những giúp no lâu, làm giảm sự tiêu hóa thức ăn mà còn ổn định đường huyết sau khi ăn. Chính vì vậy mà đậu làm ổn định được lượng đường trong máu.


Măng tây
 Măng tây cũng là một loại rau tốt cho người bệnh tiểu đường. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì măng tây có khả năng giữ lượng đường trong máu ở mức độ kiểm soát và tăng cường sản xuất insulin, hormone giúp cơ thể hấp thụ glucose.



Cà rốt
Trong khi các loại đường có các loại thực phẩm chuyển thành đường trong máu một cách nhanh chóng, thì đường trong cà rốt lại chuyển hóa ở mức độ chậm chạp. Cà rốt được cho là rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường nó cung cấp beta-carotene giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường và kiểm soát đường huyết tố.


Hành tây 
Hành tây có tác dụng dự phòng sự tăng đường máu. Trên lâm sàng, những bệnh nhân được uống dịch ép hành tây đã giảm đường máu đáng kể. Bệnh nhân cần uống dịch ép hành tây, mỗi buổi sáng một thìa canh, uống liền trong 1-2 tháng sẽ có hiệu quả.


Mướp đắng
 Trong mướp đắng xanh có chứa các hoạt chất charantin, glycosid steroid, có tác dụng hạ đường máu, làm chậm sự phát triển các bệnh về võng mạc và đục thủy tinh thể và làm tăng khả năng dung nạp glucose của người bệnh. Mướp đắng còn có tác dụng chống oxy hóa, loại bỏ gốc tự do - một trong những nguyên nhân gây đái tháo đường.


Những loại rau người bị bệnh tiểu đường cần phải tránh:



Người bệnh tiểu đường cần tránh hoặc hạn chế sử dụng một số rau quả có hàm lượng carbohydrate cao có thể gây tăng đường máu như: khoai tây, khoai lang, khoai từ, khoai mỡ,… hay một số cây họ đậu tuy không có vị ngọt nhưng có chứa khá nhiều tinh bột cũng là những thực phẩm người bệnh tiểu đường nên hạn chế.


Cách trị bệnh tiểu đường

Trị bệnh tiểu đường không dùng thuốc là một cách trị liệu tự nhiên bằng chế độ ăn uống và vận động hợp lý sẽ nhanh chóng giúp người bệnh ổn định đường huyết để phòng ngừa biến chứng.

Chế độ ăn uống: Nên chia nhỏ các bữa ăn trong ngày 4-6 bữa/ngày, không nên ăn quá nhiều trong một bữa. Nên ăn thêm bữa tối để tránh hạ đường huyết ban đêm, nhất là ở những bệnh nhân đang điều trị bằng insulin. Không nên uống rượu bia bởi vì rượu bia có thể ức chế tân tạo đường do đó dễ dẫn đến hạ đường huyết, nhất là khi bệnh nhân ăn ít hoặc không ăn. Nên ăn nhạt khi có tăng huyết áp. Nên ăn đúng bữa có thể ăn thêm 1 – 2 bữa phụ.


Vận động hợp lý 
Bên cạnh cách trị bệnh tiểu đường bằng chế độ ăn uống thì người bệnh đồng thời phải thực hiện chế độ vận động hợp lý để kiểm soát tốt đường huyết và phòng ngừa sự xuất hiện của các biến chứng.


Thể dục liệu pháp là một trong những biện pháp điều trị hỗ trợ đối với bệnh nhân đái tháo đường; làm giảm cân nặng, nên luyện tập thường xuyên hàng ngày với các động tác nhẹ nhàng như đi bộ, tập bơi, tập dưỡng sinh, đạp xe… nên tập nhẹ nhàng vừa phải, không nên tập quá sức.


Thể dục liệu pháp có thể làm giảm được mỡ máu, hạn chế tăng huyết áp, cải thiện được tình trạng tim mạch và có tác dụng hỗ trợ cho việc ổn định đường máu.



Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015

Lời khuyên cho người Suy giãn tĩnh mạch

Không có cách nào hoàn toàn ngăn chặn được suy tĩnh mạch chân. Tuy nhiên, cải thiện lưu thông máu và tăng trương lực cơ có thể làm giảm nguy cơ bị giãn tĩnh mạch chân. Các biện pháp sau có thể giúp phòng ngừa suy tĩnh mạch rất hiệu quả



1. Ăn đủ chất xơ, tránh bị táo bón.



Đảm bảo khẩu phần ăn hằng ngày có đủ chất xơ như trái cây, rau quả tươi, ngũ cốc, rau củ, ... để tránh bị táo bón

2. Đảm bảo nhu cầu 2 lít nước / ngày.


Nhu cầu nước mỗi ngày cho cơ thể một người lớn là 2 lít nước (bao gồm: nước uống và cả những thức ăn hoặc thức uống có nước), đặc biệt khi thời tiết nóng. 

3. Nên mang giày đế mềm, gót thấp. Không nên mang giày cao gót.



Nên bước đi tự nhiên bằng cả bàn chân

4. Không nên mặc quần áo quá chật (bó sát quá).


Không nên mặc những loại quần áo chật, đặc biệt là bó sát ở vùng chậu và hông. Quần áo bó chật làm cản trở máu lưu thông.

5. Nên vận động nhiều, đi bộ hàng ngày.



Đi cầu thang bộ thay vì dùng thang máy.

Có nhiều cơ hội để tập tĩnh mạch: ở cao ốc văn phòng, ở các trung tâm mua sắm, ở chung cư ... Nên dùng thang bộ vì sức khỏe tĩnh mạch của bạn.

6. Ngồi đúng tư thế, tránh đè ép lên mặt dưới đùi.


Không ngồi đong đưa chân, nên ngồi tư thế chắc chắn: chân chạm đất, để mặt dưới đùi vừa chạm ghế hoặc hổng trên mặt ghế, sao cho mặt ghế không tỳ lên mặt dưới đùi vì sẽ làm cản trở lưu thông máu tĩnh mạch chạy dọc mặt sau đùi.

7. Nếu công việc của bạn buộc phải đứng liên tục thì nên thay đổi tư thế thường xuyên.



Bạn có thể chạy tại chỗ mà vẫn làm việc được, nó sẽ giúp làm giảm tải lên hệ thống tĩnh mạch của bạn. 

8. Tránh mang vác nặng.


Xách nặng (ví dụ như đi chợ, mua sắm) sẽ làm cho máu dồn xuống chân nhiều hơn và làm cho tĩnh mạch càng bị quá tải. Cố gắng tránh xách nặng, hãy để tất cả lên xe đẩy. 

9. Nên xoay tròn bàn chân trên gót chân


Xoay từ trái qua phải, và ngược lại. 

10. Nên nhón gót khi phải ngồi lâu. Lặp lại nhiều lần.


Tập nhón gót - đứng cùng lúc cả hai bàn chân lên đầu các ngón chân, lặp lại nhiều lần. 

11. Hoặc nhịp chân khi phải ngồi lâu. Lặp lại nhiều lần.


Nhấc mũi bàn chân lên xuống giống như động tác nhịp chân. Cố gắng nâng bàn chân lên tối đa cho đến khi không thể nhấc lên được nữa. Lặp lại nhiều lần. 

12. Hoặc đá chân co duỗi hai chân xen kẽ khi ngồi lâu.


Co và duỗi nhẹ hai chân xen kẽ nhau (đá chân trước sau xen kẽ), kết hợp nhón gót (lúc co chân lại) và nhấc bàn chân (lúc duỗi chân ra). 

13. Nên tập những môn thể thao có động tác nhịp nhàng và nhẹ nhàng.


Ví dụ như: đi bộ, chạy bộ, khiêu vũ, bơi lội, đạp xe, ... 

14. Không nên chơi những môn thể thao cử động nhanh, mạnh và chuyển hướng đột ngột gây chấn động lên hệ tĩnh mạch chân.


Ví dụ như: các môn thể thao nặng (cử tạ, tập thể hình, chạy tốc độ, nhảy cao, nhảy xa, ...), các môn có đối đầu căng thẳng (tennis, cầu lông, ...), những môn chơi với bóng (bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, ...). 

15. Kê chân cao khi ngủ.


Thư dãn nghỉ ngơi và ngủ: nên kê chân cao hơn tim khoảng 15 cm. 

16. Sau khi tắm xong nên xối chân lại bằng nước lạnh.


Nước lạnh sẽ làm co thắt tĩnh mạch, giúp cho sự vận chuyển máu hồi lưu về tim dễ dàng hơn.
Tránh tắm nước nóng. 

17. Sau khi tắm hơi, tắm bồn nên xối chân lại bằng nước lạnh.


Tắm hơi và ngồi ngâm mình trong nước nóng (Jacuzzi) cũng được, nhưng sau đó bạn phải nhớ xối chân lại bằng nước lạnh và nằm gác chân cao. 

18. Không nên phơi nắng nhiều, nắng nóng có hại cho tĩnh mạch của bạn.


Chúng ta thường thích tắm nắng. Nhưng nắng nóng có hại cho tĩnh mạch của bạn. Bạn nên chọn nơi có bóng mát, và nếu có điều kiện bạn nên đi dạo trên bờ biển bằng cách lội chân trần trong nước biển lạnh. 



Mọi chi tiết và giải đáp xin liên hệ

Công ty TNHH sức khỏe tuyệt hảo

Địa chỉ: Số: 48/13, Đường số 10, P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân,Tp Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0935 141 438 - Mr Lâm
Email : tribenhthongminh.vn@gmail.com